Rôma - Kinh Thánh Tân (Bản Mới) 45
1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16   + Tóm Lược 
Giới thiệu Cựu Ước  |   Giới Thiệu Tân Ước  |   Mục Lục-KT  |   lftd.org
Viet_font: Arial, Helvetica... (unicode.utf-8)


Thư của Phaolô gửi cho tín hữu tại Rôma

(<<) Roma 1
Lời chào thăm


1:1 Phaolô, đầy tớ của Đấng Christ Jêsus, được kêu gọi làm sứ đồ và được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời,
1:2 là Tin Lành mà Đức Chúa Trời phán hứa từ trước qua các nhà tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh.
1:3 Ấy là Tin Lành về Con Ngài, là Đấng về mặt thể xác được sinh ra từ dòng vua Đavít.
1:4 về thần linh thánh khiết thì bởi sự sống lại của Ngài từ cõi chết, được tuyên xưng là con Đức Chúa Trời quyền năng, là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.
1:5 Nhờ Ngài chúng tôi đã nhận ân điển và chức sứ đồ, để vì danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự vâng phục cho đức tin.
1:6 Anh em cũng ở trong số người được kêu gọi để thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ.
1:7 Tôi kính gửi đến tất cả những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rôma, là những người được gọi làm thánh đồ. Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em!

Lời cầu nguyện và cảm tạ

1:8 Trước hết, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, tôi tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về tất cả anh em, vì đức tin anh em đã được đồn khắp thế giới.
1:9 Đức Chúa Trời, là Đấng mà tôi hết lòng phục vụ qua việc rao giảng Tin Lành về Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi luôn nhắc đến anh em
1:10 mỗi khi cầu nguyện. Tôi nài xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, mở đường cho tôi có dịp đến với anh em.
1:11 Vì tôi rất mong đến thăm anh em, để chia sẻ với anh em sự ban cho thiên liêng, nhờ đó anh em được vững mạnh,
1:12 nghĩa là để chúng ta có thể khích lệ nhau bằng đức tin của chúng ta, tức là của anh em và của tôi.
1:13 Thưa anh em, tôi muốn anh em biết rằng đã nhiều lần tôi định đến thăm anh em, để gặt hái ít nhiều bông trái trong anh em, cũng như trong các dân ngoại khác; nhưng cho đến nay vẫn còn bị ngăn trở.
1:14 Tôi mắc nợ cả người Hi Lạp lẫn người bán khai, cả người thông thái lẫn người dốt nát.
1:15 Vì vậy, tôi cũng tha thiết được rao giảng Tin Lành cho anh em, là những người đang sống ở Roma nữa.

Quyền năng của Tin Lành

1:16 Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước hết là người Do Thái, sau là người Hi Lạp.
1:17 Vì trong Tin Lành này, sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có lời chép: "Người công bình sẽ sống bởi đức tin." (Habacúc 2:4; Gal.3:11; Heb.10:38)

Tội lỗi của nhân loại

1:18 Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời từ trên trời được tỏ bày để chống lại mọi sự vô luân và gian ác của những kẻ dùng sự gian ác mà áp chế lẽ thật.
1:19 Vì những gì người ta có thể biết về Đức Chúa Trời thì đã rõ ràng, bởi Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ rồi.
1:20 Những gì về Đức Chúa Trời mà mắt trần không thấy được, tức là quyền năng đời đời và thần tín của Ngài, thì ngay từ buổi sáng thế người ta đã nhận thức rõ ràng khi quan sát các tạo vật của Ngài, cho nên họ không thể bào chữa được.
1:21 Vì mặc dù đã biết Đức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn cao Ngài là Đức Chúa Trời và không tạ ơn Ngài, nhưng cứ suy luận viễn vong và lòng dạ ngu muội của họ trở nên tăm tối.
1:22 Họ tự xưng mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên dại.
1:23 Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muôn, thú vật, hay loài bò sát.
1:24 Vì thế, Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những tham dục của lòng mình, rơi vào sự nhơ nhuốc, để làm nhục thân thể của nhau.
1:25 vì họ đã đổi lẽ thật của Đức Chúa Trời để lấy sự dối trá; họ thờ phượng và phục vụ tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được ca ngợi đời đời! Amen.
1:26 Chính vì lý do đó mà Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho tình dục đáng xấu hổ. Cả đến đàn bà cũng đã đổi cách quan hệ tự nhiên ra cách phản tự nhiên.
1:27 Đàn ông cũng vậy, bỏ cách quan hệ tự nhiên với phụ nữ mà un đốt tình dục lẫn nhau, đàn ông làm điều đồi bại với đàn ông, và chính họ phải chịu sửa phát cho tương xứng với sự lầm lạc của mình.
1:28 Vì họ không lo nhận biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại để làm những điều bất xứng.
1:29 Họ đầy dẫy mọi điều bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; lòng đầy ganh tị, giết người, gây gổ, dối trá, nham hiểm;
1:30 nói hành, vu khống, thù ghét Đức Chúa Trời, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, chuyên làm điều ác, không vâng lời cha mẹ;
1:31 Dại dột, bội tín, không có tình người, không có lòng thương xót.
1:32 Họ thừa biết luật của Đức Chúa Trời định rằng những ai phạm các tội như thế là đáng chết, vậy mà chẳng những họ làm những điều đó, lại còn tán thành cho những người khác làm nữa.

(<<) Roma 2
Sự phán xét của Đức Chúa Trời


2:1 Vậy, hỡi người kia, dù bạn là ai đi nữa, khi lên án người khác thì bạn không thể bào chữa cho mình được; vì trong khi lên án họ, bạn cũng tự lên án chính mình, bởi bạn lên án họ, mà cũng làm các việc như họ.
2:2 Chúng ta biết rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với những ai làm những việc như thế là hợp với lẽ thật.
2:3 Hỡi người kia, khi bạn lên án người khác làm những việc như vậy, mà chính bạn cũng làm, thì bạn tưởng rằng mình sẽ thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?
2:4 Hay là bạn coi thường sự dư dật của lòng khoan dung của Ngài? Bạn không nhận biết rằng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời là để đem bạn đến sự ăn năn sao.
2:5 Nhưng tấm lòng cứng cỏi, không ăn năn của bạn đang tích lũy cho mình sự giận dữ trong ngày thịnh nộ, là khi sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ,
2:6 vì "Ngài sẽ báo ứng cho mỗi người tùy theo công việc họ làm." (TThiên 62:12; ChNgôn 24:12; Mat.16:27)
2:7 Ai kiên tâm làm lành, tìm sự vinh quang, tôn trọng và bất tử, thì Ngài ban cho sự sống đời đời.
2:8 Còn ai ích kỷ, không vâng phục lẽ thật, nhưng vâng phục sự bất chính, thì chuốc lấy sự giận dữ và cơn thịnh nộ.
2:9 Hoạn nạn và khốn khổ sẽ giáng xuống cho mọi người làm ác, trước cho người Do Thái, sau cho người Hi Lạp.
2:10 Nhưng vinh quang, tôn trọng và bình an sẽ ban cho mọi người làm lành, trước cho người Do Thái, sau cho người Hi Lạp.
2:11 Vì Đức Chúa Trời không thiên vị ai cả.
2:12 Những ai không có luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không có luật pháp mà hư mất; còn những ai có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị phán xét bởi luất pháp.
2:13 Vì chẳng phải người nghe đọc luật pháp được kể là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng người làm theo luật pháp mới là người được xưng công bình.
2:14 Dân ngoại vốn không có luật pháp, nhưng tự nhiên làm những việc luật pháp dạy bảo, thì mặc dù không có luật pháp, họ là luật pháp cho chính mình rồi.
2:15 Họ cho thấy rằng những gì luật pháp đòi hỏi đã được khắc ghi trong lòng họ; chính lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, còn tư tưởng họ khi thì cáo buộc, khi thì biện hộ cho họ.
2:16 Vào ngày ấy, Đức Chúa Trời sẽ phán xét những việc thầm kín của loài người qua Đấng Christ Jêsus, theo như Tin Lành tôi rao giảng.

Mối liên hệ giữa người Do Thái và Luật Pháp

2:17 Nhưng nếu bạn tự nhận mình là người Do Thái, ỷ lại luật pháp, tự hào về Đức Chúa Trời,
2:18 hiểu biết ý muốn Ngài và biết phân biệt điều hay lẽ phải, vì bạn đã được dạy dỗ từ trong luật pháp;
2:19 và nếu bạn tin chắc rằng mình là người dẫn đường cho kẻ mù, là ánh sáng cho những ai đang ở trong tâm tối,
2:20 là thầy kẻ ngu, là người dạy kẻ ấu trĩ. Bạn tưởng rằng biểu hiện của trí thức và lẽ thật nằm trong luật pháp,
2:21 vậy thì tại sao bạn dạy dỗ người khác mà không dạy dỗ chính mình? Bạn giảng đừng trộm cắp mà bạn có trộm cắp không?
2:22 Bạn nói rằng đừng phạm tội tà dâm, mà bạn có tà dâm không? Bạn ghớm ghét hình tượng, mà bạn có đi cướp bóc các đền miếu không?
2:23 Bạn tự hào về luật pháp, mà bạn có vi phạm luật pháp làm nhục Đức Chúa Trời không?
2:24 Như có lời chép: "Vì các ngươi mà danh Đức Chúa Trời bị sỉ nhục giữa dân ngoại." (Êsai 52:5; Êxêchiên 36:22)
2:25 Nếu bạn vâng giữ luật pháp thì việc cắt bì thực sự có giá trị; nhưng nếu bạn vi phạm luật pháp, thì dù bạn có cắt bì cũng như không?
2:26 Vậy, nếu một người không chịu cắt bì mà tuân giữ các điều răn của luật pháp, thì việc không chịu cắt bì của người đó lại không được kể như đã chịu cắt bì rồi sao?
2:27 Những người vốn không cắt bì về mặt thể xác, nhưng tuân giữ luật pháp, sẽ đoán xét bạn, là người có luật pháp thành văn và sự cắt bì, mà lại vi phạm luật pháp.
2:28 Vì một người chỉ bề ngoài là người Do Thái, thì không phải là người Do Thái thật, còn sự cắt bì về mặt thể xác bên ngoài, thì không phải là sự cắt bì thật.
2:29 Nhưng một người bên trong là người Do Thái, và sự cắt bì thật phát xuất từ tấm lòng, bởi Thánh Linh, chớ không theo chử nghĩa. Một người như vậy sẽ được khen ngợi, không phải từ loài người, nhưng từ Đức Chúa Trời.

(<<) Roma 3
Đức Chúa Trời Đấng công bình toàn thiện đáng trông cậy


3:1 Vậy thì là người Do Thái có ích lợi gì không? Hay sự cắt bì có giá trị gì?
3:2 Ích lợi đủ mọi mặt. Trước hết, người Do Thái được ủy thác lời của Đức Chúa Trời.
3:3 Nhưng việc gì sẽ xẩy ra nếu một vài người trong số họ không tin? Liệu sự vô tín của họ có vô hiệu hóa sự thành tín của Đức Chúa Trời không?
3:4 Không hề như vậy! Đức Chúa Trời là chân thật, dù mọi người đều giả dối như có lời chép: "Để Chúa được nhìn nhận là công bình trong lời Ngài phán, và đắc thắng khi bị xét đoán." (TThiên 51:4)
3:5 Nhưng nếu sự không công bình của chúng ta chứng tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ nói làm sao? Có phải Đức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng cơn giận trên chúng ta không? (Tôi nói theo cách nói của người đời)
3:6 Không hề như vậy! Vì nếu vậy thì làm sao Đức Chúa Trời phán xét thế gian được?
3:7 Còn nếu nhờ sự dối trá của tôi mà lẽ thật của Đức Chúa Trời thêm vinh quang, thì tại sao tôi còn bị kết án như một tội nhân?
3:8 Vậy thì tại sao chúng ta không "làm điều ác để có điều lành?" - như một số người đã vu cáo rằng chúng tôi dạy như thế - họ bị phán xét là đáng lắm.

Không có ai công bình

3:9 Vậy thì sao? chúng ta có điều gì tốt hơn không? Hoàn toàn không; vì chúng tôi đã xác nhận rằng cả người Do Thái và Hi Lạp đều ở dưới quyền lực của tội lỗi,
3:10 như có chép:
"Chẳng có một ai công bình cả,
Dù một người cũng không.

3:11 chẳng có một người nào hiểu biết,
chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.

3:12 Tất cả đều lầm lạc, đều trở nên vô ích;
Chẳng có một ai làm điều lành,
Dù một người cũng không." (TThiên 14:1-3; 53:1-3; Truyền Đạo 7:20)

3:13 "Họng chúng nó như huyệt mộ mở toang;" (TThiên 5:9)
"Chúng dùng lưỡi mình để dối gạt;
Nọc rắn độc ẩn dưới môi chúng nó." (TThiên 140:3)
3:14 "Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng." (TThiên 10:7)
3:15 "Chúng nhanh chân để gây đổ máu,
3:16 Chúng gieo rắc sự tàn hại và khốn cùng,
3:17 Chẳng bao giờ biết con đường bình an." (Êsai 59:7,8)
3:18 Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt chúng nó." (TThiên 36:1)
3:19 Chúng ta biết rằng những điều luật pháp nói, là nói cho những ai ở dưới luật pháp, để mọi miệng đều phải nín lặng, và cả thiên hạ đều chịu tội trước mặt Đức Chúa Trời;
3:20 vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được kể là công bình trước mặt Ngài, vì nhờ luật pháp người ta nhận biết tội lỗi.

Sự công bình của Đức Chúa Trời

3:21 Nhưng bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ ngoài luật pháp. Điều này đã được luật pháp và các nhà tiên tri làm chứng.
3:22 Đó là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, ban cho mọi người có lòng tin, không phân biệt ai cả;
3:23 vì mọi người đều đả phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời,
3:24 và nhờ ân điển Ngài, bởi sự cứu chuộc trong Đấng Christ Jêsus, họ được xưng công bình mà không phải trả một giá nào.
3:25 Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho những ai có đức tin trong huyết Ngài. Việc này bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, vì Ngài lấy lòng nhẫn nhục mà bỏ qua những tội lỗi trong quá khứ.
3:26 Trong hiện tại, Ngài cũng chứng tỏ chính Ngài là sự công bình và xưng công bình cho người nào đặt lòng tin nơi Đức Chúa Jêsus.
3:27 Vậy thì có gì để khoe khoang không? Không có gì cả. Dựa vào luật nào? Luật của việc làm chăng? Không phải, nhưng dựa vào luật của đức tin.
3:28 Vì chúng ta tin rằng một người được xưng công bình bởi đức tin, chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp.
3:29 Phải chăng Đức Chúa Trời của dân Do Thái thôi? Chẳng phải Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa sao? Phải, Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa;
3:30 vì Đức Chúa Trời là một, và là Đấng sẽ làm cho người chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho người không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa;
3:31 Vậy, chúng ta vì đức tin mà loại bỏ luật pháp hay sao? Không hề như vậy! Ngược lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.

(<<) Roma 4
Gương đức tin của Ápraham


4:1 Vậy, chúng ta sẽ nói Ápraham, tổ phụ về phần xác của chúng ta, đã nhận được gì?
4:2 Nếu Ápraham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì ông có lý do để khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời thì không phải vậy.
4:3 Vì Kinh Thánh nói gì? "Ápraham tin Đức Chúa Trời, và nhờ đó ông được kể là công bình." (Sáng Thế 15:6,22)
4:4 Đối với người làm việc, thì tiền công không được kể là ân huệ, nhưng phải kể là nợ,
4:5 còn với người không làm việc, nhưng tin vào Đấng xưng công bình cho người có tội, thì đức tin của người ấy được kể là công bình.
4:6 Vì vậy, khi đề cập đến phước hạnh của người được Đức Chúa Trời nhìn nhận là công bình không bởi việc làm, Đavít nói:
4:7 "Phước cho người nào lỗi lầm được thứ tha, Tội lỗi được khỏa lấp!
4:8 Phước cho người nào Chúa Không kể là có tội!" (TThiên 32:1,2)
4:9 Phước hạnh đó chỉ dành cho những ai chịu cắt bì mà thôi hay cũng cho cả người không chịu cắt bì nữa? Vì chúng ta nói rằng bởi đức tin Ápraham được kể là công bình.
4:10 Nhưng ông được kể là công bình như thế nào? Trước hay sau khi chịu cắt bì? Không phải là sau, nhưng trước khi chịu cắt bì.
4:11 Ông đã nhận dấu cắt bì như ấn chứng của sự công bình mà ông đã có được bởi đức tin từ lúc ông chưa chịu cắt bì. Như vậy ông trở thành cha của tất cả những người tin mà không cắt bì, và họ cũng được kể là công bình,
4:21 và cũng làm cha những người chịu cắt bì, là những người không những chịu cắt bì thôi, nhưng còn noi dấu đức tin mà Ápraham, tổ phụ chúng ta đã có trước khi chịu cắt bì.

Lời hứa của Đức Chúa Trời được thực hiện qua đức tin

4:13 Lời hứa cho Ápraham và dòng dõi ông được nhận thế gian làm cơ nghiệp, không phải đến từ luật pháp nhưng nhờ sự công bình của đức tin.
4:14 Vì nếu nhờ luật pháp mà được hưởng cơ nghiệp, thì đức tin trở thành vô ích và lời hứa cũng mất hiệu lực.
4:15 Vì luật pháp đem đến sự thịnh nộ; nhưng nơi nào không có luật pháp, thì cũng không có sự phạm pháp.
4:16 Cho nên, bởi đức tin mà lời hứa do ân điển được bảo đảm cho cả dòng dõi Ápraham, không những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp, mà cho cả dòng dõi đức tin của Ápraham, cũng là tổ phụ của tất cả chúng ta,
4:17 như có lời chép: "Ta đã lập ngươi làm cha của nhiều dân tộc." (Sáng Thế 17:5). Trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng ông đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, và gọi những điều không có như đã có.
4:18 Ông đã hi vọng dù không còn lý do để hi vọng, vẫn tin và trở thành cha của nhiều dân tộc, theo như lời đã phán với ông rằng: "Dòng dõi con sẽ như thế." (Sáng Thế 15:5)
4:19 Ông thấy thân thể mình chết mòn, vì đã gần một trăm tuổi, và thấy Sara không thể sinh con được nữa, nhưng đức tin chẳng hề suy giảm.
4:20 Ông không để lòng vô tín làm cho mình nghi ngờ lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và tôn vinh Đức Chúa Trời,
4:21 hoàn toàn tin chắc rằng Đức Chúa Trời có quyền năng để thực hiện những gì Ngài đã hứa.
4:22 Vì thế đức tin của ông được kể là công bình.
4:23 Nhưng câu: "đức tin của ông được kể là công bình" không phải chỉ được ghi lại chỉ một mình ông đâu,
4:24 mà cũng cho chúng ta nữa. Đức tin sẽ được kể là công bình cho chúng ta, những người tin nơi Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ cõi chết,
4:24 Ngài đã bị nộp để chịu chết vì tội lỗi chúng ta, và sống lại để chúng ta được xưng công bình.

(<<) Roma 5
Kết quả của sự xưng công bình bởi đức tin


5:1 Vậy, khi chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời qua Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
5:2 Nhờ Ngài chúng ta được bước vào trong ân điển nầy, là ân điển mà nhờ đó chúng ta đang đứng vững và vui mừng với hi vọng được hưởng vinh quang của Đức Chúa Trời.
5:3 Không những thế, chúng ta cũng vui mừng trong gian khổ nữa, vì biết rằng gian khổ sinh ra nhịn nhục
5:4 nhịn nhục sinh ra nghị lực (rèn tập cá tánh),nghị lực sinh ra hi vọng,
5:5 và hi vọng không làm chúng ta hổ thẹn, vì tình thương của Đức Chúa Trời tuôn đổ vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh là Đấng đã được ban cho chúng ta.
5:6 Đang khi chúng ta còn yếu đuối, thì đúng kỳ hạn Đấng Christ chịu chết vì kẻ có tội.
5:7 Thật khó có ai chịu chết thay cho một người công bình, họa hoằn lắm mới có người dám chết thay cho một người lương thiện.
5:8 Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân, thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta.
5:9 Vậy bây giờ chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình rồi, thì hẳn chúng ta sẽ càng nhờ Ngài mà được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời càng hơn.
5:10 Vi nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà nhờ sự chết của Con Ngài chúng ta đã được hòa giải với Đức Chúa Trời, thì huống chi nay đã được hòa giải rồi, chúng ta lại càng được cứu nhờ sự sống của Con Ngài là dường nào.
5:11 Không những thế, chúng ta lại còn vui mừng trong Đức Chúa Trời bởi Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, nhờ Ngài mà bây giờ chúng ta nhận được sự hòa giải.

Ađam và Đấng Christ

5:12 Cho nên như bởi một người mà tội lỗi đã vào trong thế gian, và bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã lan tràn đến mọi người, vì mọi người đều đã phạm tội.
5:13 Tội lỗi đã có trong thế gian trước khi có luật pháp; nhưng khi chưa có luật pháp thì tội lỗi không được kể đến.
5:14 Tuy nhiên, sự chết đã ngự trị từ Ađam đến Môise, cả trên những người không phạm cùng một tội với Ađam, là người làm hình bóng về Đấng phải đến.
5:15 Nhưng tội lỗi không giống sự ban cho thiên thượng. Vì nếu bởi tội của chỉ một người mà nhiều người phải chết, thì ân điển của Đức Chúa Trời càng lớn hơn, và quà tặng bởi ân điển của một người là Đức Chúa Jêsus Christ, lại càng dư dật cho nhiều khác nữa.
5:16 Tặng phẩm không giống như hậu quả do tội lỗi của một người. Vì sự phán xét do một tội đã dẫn đến sự kết án; nhưng sự ban cho thiên thượng thì sau nhiều lần phạm tội lại dẫn đến sự xưng công bình.
5:17 Nếu chỉ vì tội của một người mà qua người đó sự chết đã thống trị thế nào, thì cũng chỉ nhờ một Người là Đức Chúa Jêsus Christ, mà những ai nhận ân điển và quà tặng công bình cách dồi dào, sẽ càng cai trị trong sự sống thể ấy.
5:18 Vì thế, bởi sự phạm tội của chỉ một người mà mọi người bị kết án, thì cũng vậy, bởi hành động công bình của một Người mà mọi người được xưng công bình và được hưởng sự sống.
5:19 Vì, bởi sự không vâng phục của một người mà nhiều người trở thành tội nhân, thì cũng vậy, bởi sự vâng phục của một Người mà nhiều người sẽ trở nên công bình.
5:20 Luật pháp đã đến làm cho tội lỗi gia tăng; nhưng nơi nào tội lỗi gia tăng, thì ân điển lại càng dư dật hơn.
5:21 Như thế, tội lỗi thống trị bằng sự chết, còn ân điển cai trị bằng sự công bình để đem lại sự sống đời đời qua Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.

(<<) Roma 6
Chết đối với tội lỗi và sống với Đấng Christ


6:1 Vậy chúng ta nói làm sao? Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển được dư dật sao?
6:2 Không hề như vậy! chúng ta đã chết đối với tội lỗi thì làm sao cứ tiếp tục sống trong tội lỗi được?
6:3 Anh em không biết rằng tất cả chúng ta đều đã chịu phép Báptêm trong Đấng Christ Jêsus, tức là chịu Báptêm trong sự chết của Ngài sao?
6:4 Vậy, bởi Báptêm, chúng ta đã được chôn vào trong sự chết của Ngài, để rồi, như Đấng Christ nhờ vinh quang của Cha được sống lại từ cõi chết thể nào, thì chúng ta cũng được sống trong đời mới thể ấy.
6:5 Vì nếu chúng ta đã được hiệp nhất với Ngài trong sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ được hiệp nhất với Ngài trong sự sống lại giống như sự sống lại của Ngài.
6:6 Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Ngài, để con người tội lỗi bị tiêu diệt, và chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa.
6:7 Vì ai đã chết thì được giải thoát khỏi tội lỗi.
6:8 Nhưng nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài.
6:9 Chúng ta biết rằng Đấng Christ đã sống lại từ cỏi chết, thì sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài.
6:10 Vì Ngài đã chết, là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng Ngài sống, là sống cho Đức Chúa Trời.
6:11 Vậy, anh em cũng phải kể mình đã chết đối với tội lỗi và đang sống cho Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus.
6:12 Vậy, đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em, khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó.
6:13 Đừng hiến chi thể mình làm công cụ gian ác cho tội lỗi, nhưng hãy hiến chính mình cho Đức Chúa Trời như những con người từ cõi chết sống lại, và dâng chi thể mình làm công cụ công bình cho Đức Chúa Trời.
6:14 Vì tội lỗi sẽ không cai trị trên anh em đâu, bởi anh em không ở dưới luật pháp, mà ở dưới ân điển.

Nô lệ của sự công bình

6:15 Vậy thì sao? Có phải vì chúng ta không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển, nên chúng ta sẽ cứ phạm tội không? Không hề như vậy!
6:16 Anh em không biết rằng nếu anh em đem thân làm nô lệ để vâng phục người nào, thì anh em là nô lệ cho người mình vâng phục sao? Hoặc nô lệ của sự vâng phục dẫn đến sự công bình.
6:17 Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, vì anh em đã từng làm nô lệ cho tội lỗi, mà nay thật lòng vâng phục tiêu chuẩn giáo huấn đã ủy thác cho anh em.
6:18 và anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi, trở thành nô lệ cho sự công bình.
6:19 Vì xác thịt anh em yếu đuối nên tôi nói theo cách loài người. Anh em đã từng hiến chi thể mình làm nô lệ cho sự ô uế và sự gian ác chất chồng thể nào, thì bây giờ hãy hiến chi thể mình làm nô lệ cho sự công bình để được thánh hóa thể ấy.
6:20 Khi còn là nô lệ cho tội lỗi, thì anh em được tự do đối với sự công bình.
6:21 Lúc ấy anh em thu được kết quả gì mà bây giờ anh em lại phải hổ thẹn? Sự cuối cùng của những điều đó là sự chết.
6:22 Nhưng bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi và trở nên nô lệ của Đức Chúa Trời, thì kết quả mà anh em được là sự thánh hóa, và cuối cùng được sự sống đời đời. 23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.

(<<) Roma 7
Giải thoát khỏi luật pháp


7:1 Thưa anh em, tôi nói với những người biết luật pháp, anh em không biết rằng luật pháp chỉ cai trị trên người ta khi họ còn sống thôi sao?
7:2 Do đó, một phụ nữ có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu thì người phụ nữ ấy còn bị luật pháp ràng buộc phải sống với chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người ấy không còn bị luật pháp ràng buộc với chồng nữa.
7:3 Vậy nếu đang lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người đàn ông khác, thì sẽ bị gọi là đàn bà ngoại tình. Nhưng nếu chồng chết, thì người ấy không còn bị luật pháp ràng buộc với chồng nữa.
7:4 Cũng vậy, thưa anh em của tôi, nhờ thân thể của Đấng Christ mà anh em đã chết về luật pháp và nay thuộc về một người khác, là Đấng đã sống lại từ cõi chết, để chúng ta kết quả cho Đức Chúa Trời.
7:5 Khi chúng ta còn sống trong xác thịt, các tham dục của tội lỗi qua luật pháp, hành động trong chi thể chúng ta để kết quả cho sự chết.
7:6 Nhưng bây giờ chúng ta đã được thoát khỏi luật pháp, đã chết đối với điều đã giam cầm chúng ta, để chúng ta phục vụ theo cách mới của Thánh Linh, chứ không theo cách cũ của văn tự nữa.

Tội Lỗi và Luật Pháp

7:7 Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp là tội lỗi sao? Không hề như vậy! Nhưng nếu không nhờ luật pháp thì tôi không biết đến tội lỗi. Nếu luật pháp không nói: "Ngươi chớ tham lam," (Xuất 20:7, Phục 5:21) thì tôi đã không biết tham lam là gì.
7:8 Nhưng tội lỗi đã nắm lấy cơ hội trong điều răn, khơi dậy trong tôi đủ mọi thứ tham dục. Vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi.
7:9 Ngày trước tôi không có luật pháp thì tôi sống; nhưng khi có điều răn, thì tội lỗi lại sống,
7:10 còn tôi thì chết; lẽ ra điều răn đem sự sống đến cho tôi, lại đưa tôi đến sự chết.
7:11 Vì tội lỗi nắm lấy cơ hội, dùng điều răn lừa dối và dỗ dành tôi và nhân đó làm cho tôi chết.
7:12 Cho nên, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình, và tốt lành.
7:13 Vậy, có phải điều lành đem sự chết đến cho tôi không? Không hề như vậy! Nhưng đó là tội lỗi đã dùng điều lành làm cho tôi chết, để bản chất thật của tội lỗi được phơi bày, và qua điều răn, tội lỗi trở nên vô cùng tệ hại.

Cuộc chiến nội tâm

7:14 Chúng ta biết rằng luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
7:15 Tôi không hiểu điều mình làm. Vì tôi không làm điều mình muốn, nhưng lại làm điều mình ghét.
7:16 Nhưng nếu tôi làm điều mình không muốn, thì tôi nhìn nhận luật pháp là tốt lành.
7:17 Bấy giờ không phải tôi làm điều đó nữa, nhưng chính tội lỗi ở trong tôi.
7:18 Vì tôi biết rằng điều thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Tôi có ý muốn làm điều thiện, nhưng tôi không có khả năng để làm.
7:19 Vì tôi không làm điều thiện mình muốn, nhưng lại làm điều ác mình không muốn.
7:20 Nếu tôi làm điều mình không muốn, thì không phải là tôi, mà là tội lỗi trong tôi làm điều đó.
7:21 Vì vậy, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm điều thiện, thì điều ác bám theo tôi.
7:22 Trong thâm tâm, tôi rất đẹp lòng luật pháp của Đức Chúa Trời;
7:23 nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong tâm trí tôi, bắt tôi phải làm nô lệ cho luật của tội lỗi, là luật ở trong chi thể tôi.
7:24 Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể hay chết nầy?
7:25 Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Như vậy, chính tôi dùng trí khôn mình phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt mình phục luật pháp của tội lỗi.

(<<) Roma 8
Sự sống trong Thánh Linh


8:1 Vậy bây giờ, những ai ở trong Đấng Christ Jêsus sẽ không bị đoán phạt nữa; (những ai bước theo Thánh Linh, không theo xáx thịt),
8:2 vì luật của Thánh Linh sự sống trong Đấng Christ Jêsus đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.
8:3 Vì điều gì luật pháp không thể làm được do xác thịt làm cho luật pháp suy yếu, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã sai chính Con Ngài mang lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi để giải quyết tội lỗi, và Ngài đã kết án tội lỗi trong xác thịt,
8:4 để sự công bình mà luật pháp đòi hỏi được thực hiện đầy đủ trong chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh.
8:5 Thật thế, những ai sống theo xác thịt thì chú tâm vào những việc thuộc xác thịt; còn những ai sống theo Thánh Linh thì chú tâm vào những việc thuộc Thánh Linh.
8:6 Chú tâm vào xác thịt sinh ra sự chết, còn chú tâm vào Thánh Linh sinh ra sự sống và bình an;
8:7 vì tâm trí hướng về xác thịt thì thù nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời, thực ra nó không có khả năng để thuận phục.
8:8 Người nào sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời.
8:9 Nhưng nếu Thánh Linh của Đức Chúa Trời thực sự ở trong anh em, thì anh em không sống theo xác thịt, mà sống theo Thánh Linh; còn ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.
8:10 Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì dù thân thể anh em chết về tội lỗi, tâm linh anh em vẫn sống về sự công bình.
8:11 Nếu Thánh Linh của Đấng đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại từ cỏi chết ở trong anh em, thì Đấng đã khiến Đấng Christ sống lại từ cỏi chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài đang ở trong anh em mà ban sự sống cho thân thể hay chết của anh em.
8:12 Thưa anh em, chúng ta không mắc nợ xác thịt đâu, để phải sống theo xác thịt.
8:13 Vì nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm cho chết công việc của thân thể, thì anh em sẽ sống.
8:14 Vì tất cả những ai đượcThánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Đức Chúa Trời.
8:15 Thật vậy, anh em đã không nhận lấy tâm linh làm nô lệ để cứ sống trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy tâm linh làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta gọi rằng: "Aba! Cha!"
8:16 Chính Thánh Linh cùng với tâm linh chúng ta làm chứng rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
8:17 Nếu là con cái thì chúng ta cũng là người thừa kế, vừa là người thừa kế của Đức Chúa Trời vừa là người cùng thừa kế với Đấng Christ, và nếu chúng ta thật sự cùng chịu khổ với Ngài thì chúng ta sẽ cùng được vinh quang với Ngài.

Niềm hi vọng của con cái Đức Chúa Trời

8:18 Tôi nghĩ rằng những đau khổ hiện tại không đáng so sánh với vinh quang tương lai sẽ được tỏ ra cho chúng ta.
8:19 Vì muôn vật nhiệt thành, thiết tha trông mong sự hiện ra của con cái Đức Chúa Trời.
8:20 Muôn vật đã bị lệ thuộc sự hư không, không phải tự ý, nhưng bởi Đấng muốn chúng lệ thuộc, với hi vọng rằng
8:21 chính muôn vật rồi đây cũng sẽ được giải thoát khỏi thân phận nô lệ cho sự hư nát, để chung hưởng sự tự do trong vinh quang của con cái Đức Chúa Trời.
8:22 Vì chúng ta biết rằng tất cả tạo vật đều than thở và quặn thắt cho đến ngày nay;
8:23 Không những muôn vật mà cả chúng ta là những người có Thánh Linh là trái đầu mùa, cũng than thở trong lòng đang khi mong đợi được làm con nuôi, là sự cứu chuộc thân thể chúng ta.
8:24 Trong niềm hi vọng đó chúng ta được cứu. Nhưng khi đã thấy được điều mình hi vọng rồi thì không còn là hi vọng nữa. Vì ai lại hi vọng điều mình đã thấy?
8:25 Nhưng nếu đặt hi vọng vào điều mình không thấy thì chúng ta cứ kiên nhẫn chờ mong điều đó.
8:26 Cũng vậy, Thánh Linh giúp đở sự yếu đuối của chúng ta, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện điều gì cho đúng, nhưng chính Thánh Linh dùng sự thở than không thể diễn tả bằng lời mà cầu thay cho chúng ta.
8:27 Đấng dò xét lòng người, biết rõ ý tưởng của Thánh Linh, vì Thánh Linh theo ý muốn của Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ.
8:28 Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý định của Ngài.
8:29 Vì những người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng định sẵn cho họ trở nên giống như hình ảnh Con Ngài, để Con ấy được làm con trưởng giữa nhiều anh em.
8:30 Còn những người Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã kêu gọi, những người Ngài đã kêu gọi, thì Ngài cũng đã xưng công bình, và những người Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh quang.

Tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ

8:31 Vậy, chúng ta sẽ nói gì về những việc này? Nếu Đức Chúa Trời đứng về phía chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?
8:32 Ngài đã không tiếc chính con mình, nhưng vì tất cả chúng ta mà phó con ấy cho, thì Ngài lại không ban mọi sự cùng với Con ấy sao?
8:33 Ai sẽ kiện những người được Đức Chúa Trời tuyển chọn? Chính Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những người ấy.
8:34 Ai sẽ là người kết án họ? Chính Đấng Christ Jêsus là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại, Đấng đang ngồi bên phải Đức Chúa Trời, và cầu thay cho chúng ta.
8:35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo không?
8:36 Như có lời chép:
"Vì cớ Ngài mà chúng tôi bị giết cả ngày;
Chúng tôi bị coi như chiên sắp làm thịt." (TThiên 44:22)
8:37 Trái lại, trong mọi sự ấy chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà toàn thắng.
8:38 Vì tôi đoan chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực,
8:39 chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào, cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.

(<<) Roma 9
Đức Chúa Trời và tuyển dân


9:1 Trong Đấng Christ tôi nói sự thật, tôi không nói dối, lương tâm tôi cũng làm chứng cho tôi trong Đức Thánh Linh
9:2 rằng tôi buồn bả lắm, lòng đau xót triền miên.
9:3 Vì tôi ước ao có thể chính mình bị nguyền rủa và dứt bỏ khỏi Đấng Christ thay cho anh em, là đồng bào của tôi,
9:4 tức là người Ysơraên, là dân được hưởng danh phận con nuôi, sự vinh quang lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng, và lời hứa;
9:5 là dân được sinh ra bởi các tổ phụ, và từ dòng dõi nầy, về phần xác đã sinh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, là Đức Chúa Trời đáng được chúc tụng đời đời. Amen.
9:6 Nói như vậy không có nghĩa là lời Đức Chúa Trời đã thất bại. Vì không phải tất cả những ai ra từ Ysơraên đều là người Ysơraên.
9:7 Cũng không phải tất cả những ai thuộc dòng dõi Ápraham đều là con cái của ông. Trái lại, như có chép: "Bởi Ysác, dòng dõi con sẽ được gọi theo tên con;" (Sáng 21:12)
9:8 nghĩa là chẳng phải con cái theo phần xác là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái của lời hứa mới được kể là dòng dõi thật.
9:9 Vì lời này chính là lời hứa: "Khoảng thời gian nầy Ta sẽ trở lại, và Sara sẽ có con trai." (Sáng 18:10,14)
9:10 Không những thế, khi Rêbêca mang thai đôi bởi một người là Ysác, tổ phụ chúng ta;
9:11 dù hai con chưa được sinh ra, chưa làm điều lành hay điều dữ nào - để duy trì mục đích của Đức Chúa Trời trong việc lựa chọn, không tùy thuộc vào việc làm nhưng tùy thuộc Đấng kêu gọi -
9:12 thì người mẹ đã được bảo trước rằng: "đứa lớn sẽ phục dịch đứa nhỏ." (Sáng 25:23)
9:13 Như có chép rằng: "Ta yêu Giacốp nhưng ghét Êsau." (Malachi 1:2,3)
9:14 Vậy chúng ta sẽ nói thế nào? Có phải Đức Chúa Trời bất công không? Không hề như vậy!
9:15 Vì Ngài phán với Môise:
"Ta sẽ nhân từ với người nào Ta muốn nhân từ,
Ta sẽ thương xót người nào Ta muốn thương xót." (Xuất 33:19)

9:16 Vậy điều đó không thuộc vào ước muốn hay sự bôn ba của con người, nhưng bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời.
9:17 Vì Kinh Thánh cũng nói với Pharaôn rằng: "Ta đã lập người lên là để bày tỏ quyền năng của Ta trong ngươi, để danh Ta được truyền ra khắp đất." (Xuất 9:16)
9:18 Như vậy, Đức Chúa Trời muốn thương xót ai thì thương xót, Ngài muốn làm cứng lòng ai thì làm.

Sự thịnh nộ và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời

9:19 Thế thì bạn sẽ hỏi tôi rằng: "Nếu vậy sao Ngài còn quở trách? Vì ai có thể chống lại ý muốn Ngài được?"
9:20 Thưa bạn, bạn là ai mà dám cãi lại Đức Chúa Trời? Làm sao sản phẩm được nắn nên lại có thể nói với người nắn nên nó rằng: "sao ông đã nắn tôi như thế nầy?" (Êsai 29:16; 45:9)
9:21 Người thợ gốm lại không có quyền trên đất sét, để từ trong cùng một đống đất mà nắn nên loại bình dùng vào việc sang trọng và loại khác dùng vào việc thấp hèn sao?
9:22 Nếu Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cơn thịnh nộ và chứng tỏ quyền năng của Ngài, mà Ngài đã kiên nhẫn chịu đựng những chiếc bình đáng chịu thịnh nộ để bị hủy diệt, thì sao?
9:23 Nếu Ngài muốn chứng tỏ sự giàu có của vinh quang Ngài đối với những chiếc bình đáng thương xót, mà Ngài đã chuẩn bị cho sự vinh quang,
9:24 trong đó có chúng ta, là những người Ngài đã gọi, không chỉ từ trong dân Do Thái mà cũng từ trong dân ngoại, thì sao?
9:25 Như Ngài phán trong sách Ôsê:
"Ta sẽ gọi những người không phải dân Ta là dân Ta,
Những người không được yêu dấu là yêu dấu;" (Ôsê 2:23)

9:26 "Và tại nơi Ta phán cùng họ: 'Các ngươi không phải là dân Ta,' Thì cũng chính tại đó họ sẽ được gọi là 'con cái Đức Chúa Trời hằng sống." (Ôsê 1:10)
9:27 Còn Êsai lên tiếng về dân Ysơraên rằng: "Dù số con cái Ysơraên đông như cát biển, thì cũng chỉ một phần còn sót lại sẽ được cứu mà thôi;
9:28 vì Chúa sẽ nhanh chóng và dứt khoát làm ứng nghiệm lời Ngài trên đất." (Êsai 10:22,23)
9:29 Êsai cũng đã báo trước:
"Nếu Chúa vạn quân không chừa lại cho chúng ta người nối dõi,
Thì chúng ta đã trở nên như thành Sôđôm và giống như thành Gômôrơ rồi." (Êsai 1:9)

Sự vô tín của dân Ysơraên

9:30 Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Các dân ngoại không tìm kiếm sự công bình thì lại được sự công bình, đó là sự công bình bởi đức tin;
9:31 còn dân Ysơraên đã cố dựa vào luật pháp để tìm kiếm sự công bình, thì không làm trọn được luật pháp.
9:32 Tại sao? Vì họ không tìm kiếm bằng đức tin, nhưng bằng việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở,
9:33 như có chép:
"Nầy, Ta để tại Siôn một hòn đá ngăn trở,
là tảng đá làm cho chúng vấp ngã;
Nhưng ai tin vào đó sẽ không bị hổ thẹn." (Êsai 8:14; 28:16)


(<<) Roma 10
Sự cứu chuộc cho mọi người


10:1 Thưa anh em, sự ao ước của lòng tôi và lời khẩn cầu tôi với Đức Chúa Trời là để dân Ysơraên được cứu rỗi.
10:2 Tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, nhưng lòng nhiệt thành đó thiếu tri thức.
10:3 Do không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng cho mình, nên họ không thuận phục sự công bình của Đức Chúa Trời;
10:4 Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, để mọi người tin đều được xưng công bình.
10:5 Môise viết về sự công bình đến từ luật pháp rằng: "ai làm theo những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống." (Lêvi 18:5)
10:6 Nhưng sự công bình đến từ đức tin, thì nói thế này: "Đừng nói trong lòng mình rằng: 'Ai sẽ lên trời?' " (hàm ý là để đem Đấng Christ xuống;) (Phục 30:13)
10:7 hay là: "Ai sẽ xuống vực sâu?" (hàm ý là để đem Đấng Christ từ cõi chết lên.) (Phục 30:13)
10:8 Nhưng lời ấy nói gì?
"Đạo ở gần anh em,
Trên môi miệng và trong lòng anh em," (Phục 30:14)
Đó là đạo đức tin mà chúng tôi giảng dạy.
10:9 Vậy nếu miệng anh em xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa và lòng anh em tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì anh em sẽ được cứu.
10:10 Vì ai tin trong lòng thì được xưng công bình, và ai tuyên xưng nơi miệng thì được cứu rỗi.
10:11 Kinh Thánh nói: "Người nào tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn." (Êsai 28:16)
10:12 Không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp, vì cùng chung một Chúa là Chúa của mọi người, Đấng ban ơn dư dật cho mọi người kêu cầu Ngài.
10:13 Vì, "ai kêu cầu danh Chúa đều sẽ được cứu." (Giôên 2:32)
10:14 Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sau được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thế nào mà tin? Không có người rao giảng thì nghe cách nào?
10:15 Nếu chẳng có ai được sai đi, thì làm sao rao giảng? Như có lời chép: "Bàn chân của người rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao!" (Êsai 52:7)
10:16 Nhưng không phải mọi người đều vâng theo Tin Lành đâu; chính Êsai đã nói: "Lạy Chúa, ai chịu tin lời chúng con rao giảng?" (Êsai 53:1)
10:17 Như vậy, đức tin đến từ những điều người ta nghe, mà người ta nghe là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.
10:18 Nhưng tôi xin hỏi: Có phải là họ chưa được nghe không? Thực ra thì họ đã nghe, vì: "Tiếng của các sứ giả đã vang ra khắp đất,
Và lời của họ đã truyền đến tận cùng thế giới." (TThiên 19:4)
10:19 Tôi lại hỏi: Phải chăng dân Ysơraên không hiểu? Trước hết Môise đã nói: "Ta sẽ làm cho các ngươi ganh tị với những dân không phải là dân;
Ta sẽ làm cho các ngươi tức giận vời một dân kém hiểu biết." (TThiên 32:21)

10:20 Êsai lại mạnh dạng nói rằng:
"Những người không tìm kiếm Ta thì đã gặp được Ta,
Ta đã tỏ mình ra cho những người chẳng cầu hỏi Ta." (Êsai 65:1)

10:21 Nhưng về dân Ysơraên, Ngài phán: "suốt ngày Ta dang tay hướng về một dân bất tuân và ngoan cố." (Êsai 65:2)

(<<) Roma 11
Lòng khoang nhân của Đức Chúa Trời đối với dân Ysơraên


11:1 Vậy tôi xin hỏi, Đức Chúa Trời có từ bỏ dân Ngài không? Không hề như vậy! Vì chính tôi là người Ysơraên, dòng dõi Ápraham, thuộc bộ tộc Bêngiamin.
11:2 Đức Chúa Trời không hề từ bỏ dân Ngài là dân mà Ngài đã biết trước. Anh em có biết Kinh Thánh về chuyện Êli đã phàn nàn dân Ysơraên trước mặt Đức Chúa Trời như thế nào không?
11:3 "Lạy Chúa, họ đã giết các nhà tiên tri Ngài, hủy phá bàn thờ Ngài; chỉ còn lại một mình con, và họ cũng tìm giết con." (1Vua 19:10,14)
11:4 Nhưng Đức Chúa Trời đáp lại ông như thế nào? "Ta đã để dành cho Ta bảy nghìn người chẳng hề quì gối trước mặt thần Baanh." (1Vua 19:18)
11:5 Ngày nay cũng vậy, có một phần còn sót lại được lựa chọn bởi ân điển.
11:6 Nhưng nếu bởi ân điển thì không cần đến việc làm nữa; nếu không, ân điển không còn là ân điển.
11:7 Vậy thì sao? Dân Ysơraên đã không đạt được điều mình tìm kiếm. Những người được chọn thì đã đạt được, nhưng số còn lại thì trở nên cứng lòng,
11:8 như có lời chép rằng:
"Đức Chúa Trời đã cho họ một tâm linh mê muội,
Mắt mù, tai điếc, cho đến ngày nay." (Phục 29:4; Êsai 29:10)
11:9 Đavít còn nói:
"Mong cho bàn tiệc của họ trở thành cạm bẫy và lưới bủa,
Đá vấp chưng và sự báo ứng cho họ;
11:10 Ước gì mắt họ mờ để không còn thấy được,
Và lưng họ cứ mãi cong khom!" (TThiên 69:22,23)

Sự cứu chuộc đến với dân ngoại

11:11 Vậy tôi xin hỏi, có phải dân Ysơraên đã vấp chân đến nỗi phải ngã nhào không? Không hề như vậy! Nhưng do sự phạm tội của họ mà sự cứu rỗi đã đến với dân ngoại, để khiến họ ganh đua.
11:12 Nếu sự phạm tội của họ đã làm giàu cho thế gian, và nếu sự thất bại của họ đã làm giàu cho dân ngoại, thì sự sung mãn của họ sẽ còn làm giàu hơn biết chừng nào!
11:13 Tôi nói vớ anh em là các dân ngoại: Bao lâu tôi còn làm sứ đồ cho dân ngoại, tôi sẽ còn làm rạng rỡ chức vụ mình,
11:14 để khơi dậy lòng ganh đua của đồng bào tôi, và cứu được một số người trong họ.
11:15 Vì nếu việc họ bị loại bỏ đã đem lại sự hòa giải cho cả thế gian, thì việc họ được tiếp nhận chẳng phải là sự sống đến từ cỏi chết sao?
11:16 Nếu phần bột đầu tiên được dâng là thánh, thì cả đống bột cũng thánh; và nếu rễ là thánh, thì các cành cũng thánh.
11:17 Nhưng nếu có một vài cành bị cắt đi, và bạn vốn là cây ôliu hoang được ghép vào các cành ấy để được chia sẽ nhựa sống từ rễ cây ôliu,
11:18 thì đừng có kiêu hãnh với các cành đó. Nếu bạn kiêu hãnh, thì hãy nhớ rằng không phải bạn chịu đựng cái rễ, nhưng là cái rễ chịu đựng bạn.
11:19 Bạn sẽ nói: "Các cành đã bị cắt đi, để ta được ghép vào."
11:20 Đúng vậy, các cành đó đã bị cắt đi vì lòng vô tín của chúng, nhưng bạn chỉ đứng vững được nhờ đức tin. Đừng kiêu ngạo, nhưng hãy sợ hãi.
11:21 Vì nếu Đức Chúa Trời đã không tiếc các cành tự nhiên, thì Ngài cũng chẳng tiếc bạn đâu.
11:22 Vậy hãy nhìn biết sự nhân từ và sự nghiêm khắc đối với Đức Chúa Trời: Nghiêm khắc đối với những ai đã ngã, nhưng nhân từ đối với bạn, miễn là bạn tiếp tục giữ mình trong sự nhân từ Ngài; nếu không, bạn cũng sẻ bị cắc bỏ.
11:23 Còn với người Do Thái, nếu họ không miệt mài trong sự vô tín, thì cũng sẽ được ghép vào, vì Đức Chúa Trời có quyền ghép họ lại.
11:24 Vì nếu tự bản chất, bạn vốn là cây ôliu hoang mà được cắt và ghép vào cây ôliu tốt, trái với tự nhiên, thì huống chi họ vốn là những cành tự nhiên, họ lại đáng được ghép vào chính cây ôliu của mình càng hơn.

Dân Ysơraên sẽ được cứu

11:25 Thưa anh em, tôi muốn anh em hiểu sự mầu nhiệm này để anh em không tự cho mình là khôn ngoan, đó là: Một phần dân Ysơraên cứ cứng lòng cho đến khi số dân ngoại gia nhập đầy đủ.
11:26 Như vậy cả dân Ysơraên sẽ được cứu, như có lời chép:
"Đấng Giải cứu sẽ đến từ Siôn,
Cất bỏ sự vô đạo khỏi nhà Giacốp";
11:27 Và đây là giao ước Ta lập với họ,
Khi Ta xóa bỏ tội lỗi họ." (Êsai 59:20,21; 27:9; Giêrêmi 31:33,34)

11:28 Theo Tin Lành, thì họ là kẻ thù của Đức Chúa Trời, điều đó có lợi cho anh em; nhưng theo sự lựa chọn, thì họ được yêu thương nhờ các tổ phụ mình;
11:29 Vì các sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ thay đổi.
11:30 Như anh em trước kia không vâng phục Đức Chúa Trời, mà bây giờ được thương xót nhờ sự không vâng phục của họ,
11:31 thì cũng vậy, bây giờ họ đã không vâng phục để nhờ sự thương xót tỏ ra cho anh em, họ cũng được thương xót.
11:32 Vì Đức Chúa Trời đã nhốt mọi người trong chỗ không vâng phục, để thương xót mọi người.
11:33 Ôi! Sự giàu có, khôn ngoan và hiểu biết của Đức Chúa Trời thật sâu nhiệm biết bao! Sự phán xét của Ngài làm sao biết được, đường lối Ngài làm sao hiểu được!
11:34 "Vì ai biết được ý tưởng Chúa,
Ai là người cố vấn cho Ngài?" (Êsai 40:13)
11:35 Hoặc "ai đã cho Chúa trước,
Để được Ngài trả lại?" (Gióp 41:11)
11:36 Vì muôn vật đều từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh quang thuộc về Ngài đời đời vô cùng! Amen.

(<<) Roma 12
Đời sống mới trong Đấng Christ


12:1 Vậy, thưa anh em, bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời tôi nài xin anh em dâng thân thể mìn làm của lễ sống, thánh khiết và đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.
12:2 Đừng khuông rập theo đời này, nhưng phải được biến hóa bởi sự đổi mới của tâm trí mình, để phân biệt đâu là ý muốn tốt đẹp, vừa lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
12:3 Vì nhờ ân điển đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em, đừng nghĩ quá cao về chính mình, nhưng phải suy nghĩ đúng mực, tùy theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho từng người.
12:4 Giống như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, và các chi thể không có cùng một chức năng;
12:5 thì cũng vậy, chúng ta tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân trong Đấng Christ, và mỗi chúng ta đều là các chi thể của nhau.
12:6 Chúng ta có các ân tứ khác nhau, tùy theo ân điển Chúa ban: Người được ân tứ nói tiên tri, hãy nói theo lượng đức tin;
12:7 người được ân tứ phục vụ, hãy phục vụ; người được ân tứ dạy dỗ, hãy dạy dỗ;
12:8 người được ân tứ khích lệ, hãy khích lệ; người được ân tứ ban phát, hãy ban phát rộng rãi; người được ân tứ lãnh đạo, hãy siêng năng lãnh đạo; người được ân tứ làm việc từ thiện, hãy vui vẻ mà làm.

Sống trong yêu thương

12:9 Tình yêu thương phải thành thật. Hãy ghê tởm điều dữ, gắn bó với điều lành.
12:10 Hãy yêu thương nhau thân thiết như anh em; hãy hết lòng kính nhường nhau.
12:11 Hãy nhiệt thành, chớ lười biếng; phải có tinh thần sốt sắng; phải phục vụ Chúa.
12:12 Hãy vui mừng trong hi vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện.
12:13 Hãy cung ứng nhu cầu cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách
12:14 Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em, hãy chúc phước; đừng nguyền rủa.
12:15 Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc.
12:16 Hãy sống hòa hợp với nhau; đừng có ý tưởng kiêu ngạo, nhưng hòa mình với những người thấp kém. Đừng tự cho mình là khôn ngoan.
12:17 Chớ lấy ác trả ác cho ai; phải chú tâm làm điều thiện trước mặt mọi người.
12:18 Nếu có thể được, thì hãy hết sức sống hòa thuận với mọi người.
12:19 Thưa anh em yêu dấu, đừng tự tay mình báo thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có lời Chúa phán: "Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng." (PhụcTr 32:35)
12:20 Nhưng, "nếu kẻ thù anh em đói, hãy cho họ ăn; đang khát, hãy cho uống; vì làm như vậy khác nào anh em đặt những than lửa hồng trên đầu họ." (Châm Ngôn 25:21,22)
12:21 Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.

(<<) Roma 13
Về sự phục kẻ có quyền


13:1 Mọi người phải phục tùng các đấng cầm quyền; vì chẳng có thẩm quyền nào mà không đến từ Đức Chúa Trời, các quyền hiện có đều do Đức Chúa Trời chỉ định.
13:2 Cho nên ai chống đối quyền phép là chống lại mệnh lệnh Đức Chúa Trời đã lập; và những người làm như vậy sẽ chuốc lấy sự phán xét cho mình.
13:3 Vì các quan quyền không phải để cho người lương thiện sợ, mà để cho người gian ác sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều tốt đẹp và bạn sẽ được khen thưởng;
13:4 vì họ là đầy tớ của Đức Chúa Trời để làm ích cho bạn. Nhưng nếu bạn làm điều gian ác, hãy lo sợ, vì họ mang gương không phải là vô cớ đâu; họ là đầy tớ của Đức Chúa Trời để thi hành sự trừng phạt đối với kẻ làm điều gian ác.
13:5 Cho nên cần phải vâng phục, không những vì sợ sự trừng phạt, nhưng cũng vì lương tâm nữa.
13:6 Cũng vì lý do đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đầy tớ của Đức Chúa Trời để lo công việc này.
13:7 Hãy trả cho mọi người điều mình mắc nợ; nộp thuế cho kẻ mình phải nộp; đóng lợi tức cho người mình phải đóng; sợ kẻ mình đáng sợ; tôn trọng người đáng tôn trọng.

Tình yêu thương làm trọn luật pháp

13:8 Đừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ món nợ yêu thương nhau, vì ai yêu người lân cận mình là đã làm trọn luật pháp.
13:9 Vì các điều răn: "Người chớ phạm tội tà dâm, chớ giết người, chớ trộm cướp, chớ tham lam," (Xuất 13:20:13-14;17; Phục 5:17-19;21)
và bất cứ điều răn nào khác, đều tóm tắt trong câu này:
"Ngươi phải yêu người lân cận như mình." (Lêvi 19:18)
13:10 Tình yêu thương không làm hại người lân cận; vì vậy yêu thương là làm trọn luật pháp.

Hãy thức tỉnh và tinh sạch

13:11 Hãy làm như vậy, vì anh em biết mình đang sống trong thời kỳ nào. Đã đến giờ anh em phải thức dậy, vì hiện nay sự cứu rỗi đã gần với chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin.
13:12 Đêm đã khuya, ngày gần đến; chúng ta hãy cởi bỏ những công việc của bóng tối, và mặc lấy áo giáp của ánh sáng.
13:13 Hãy sống cách đàng hoàng như đi giữa ban ngày, đừng chè chén và say sưa, trụy lạc và phóng đảng, gây gổ và ganh tị.
13:14 Nhưng hãy mặc lấy Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đừng tìm cách làm thỏa mãn các dục vọng xác thịt.

(<<) Roma 14
Khoang dung voi anh em


14:1 Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng tranh luận với họ về các quan điểm.
14:2 Người này tin có thể ăn được mọi thứ; còn người yếu đuối chỉ ăn rau thôi.
14:3 Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn, và người không ăn đừng chỉ trích kẻ ăn; vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người ấy.
14:4 Bạn là ai mà xét đoán đầy tớ của người khác? Nó đứng hay ngã, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng.
14:5 Người này cho rằng ngày này tốt hơn ngày kia, còn người khác thì coi mọi ngày đều như nhau; mỗi người hãy tin chắc ở trí mình.
14:6 Người giữ ngày, là giữ vì Chúa; người ăn cũng ăn vì Chúa, và họ tạ ơn Đức Chúa Trời; người không ăn cũng không ăn vì Chúa, và họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.
14:7 Không người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết;
14:8 vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Cho nên dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa cả.
14:9 Chính vì vậy mà Đấng Christ đã chết và sống lại để làm Chúa của cả kẻ chết lẫn người sống.
14:10 Nhưng bạn, sao lại xét đóan anh em mình? Còn bạn, sao lại khinh bỉ anh em mình? Vì tất cả chúng ta đều sẽ ứng hầu trước tòa án của Đức Chúa Trời.
14:11 Vì có lời chép:
"Chúa phán: Thật như Ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quì trước mặt Ta,
Và mọi lưỡi sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời." (Êsai 45:23; Philíp 2:10-11)

14:12 Như vậy, mỗi chúng ta sẽ tường trình về chính mình với Đức Chúa Trời.

Không gây vấp phạm cho nhau

14:13 Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa, nhưng tốt hơn cả là quyết định không đặt hòn đá làm vấp chân hoặc gây cản trở cho anh em mình.
14:14 Trong Đức Chúa Jêsus, tôi biết và tin quyết rằng chẳng có vật gì tự nó là ô uế; nhưng nó là ô uế đối với ai xem nó là ô uế.
14:15 Nếu vì một thức ăn mà bạn làm tổn thương anh em mình, thì bạn đã không cư xử theo tình yêu thương rồi. Đừng vì một thức ăn làm hư mất người mà Đấng Christ đã chết thay.
14:16 Vậy đừng để việc tốt của anh em bị gièm chê.
14:17 Vì vương quốc của Đức Chúa Trời không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công bình, bình an, vui mừng trong Đức Thánh Linh.
14:18 Người nào phục vụ Đấng Christ theo cách ấy, thì đẹp lòng Đức Chúa Trời và được loài người tôn trọng.
14:19 Vậy chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại sự hòa thuận và xây dựng cho nhau.
14:20 Đừng vì một thức ăn mà hủy hoại công việc của Đức Chúa Trời. Thật ra mọi vật đều thanh sạch, nhưng ai vì một món ăn mà gây cho người khác vấp ngã thì thật là sai lầm.
14:21 Tốt nhất là không ăn thịt, không uống rượu hoặc làm điều gì gây vấp phạm cho anh em mình.
14:22 Bạn có đức tin thể nào thì hãy giữ cho mình thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời. Phước cho người nào không tự lên án mình về những gì mình đã chấp nhận!
14:23 Nhưng người nào còn nghi ngại mà cứ ăn, thì bị lên án rồi, vì không hành động bởi đức tin. Việc gì không đến từ đức tin đều là tội lỗi.

(<<) Roma 15
Hòa hợp trong Chúa


15:1 Chúng ta là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu, chứ không chỉ biết làm vừa lòng chính mình.
15:2 Mỗi người trong chúng ta nên làm vừa lòng người lân cận mình để giúp ích và xây dựng họ.
15:3 Vì Đấng Christ cũng không làm vừa lòng chính mình, như có lời chép: "Lời nhục mạ của những kẻ phỉ bán Ngài đã đổ trên Con." (TThiên 69:9)
15:4 Những gì đã được chép từ xưa đều nhằm dạy dỗ chúng ta, để nhờ sự kiên định và khích lệ của Kinh Thánh mà chúng ta có niềm hi vọng.
15:5 Cầu xin Đức Chúa Trời của sự kiên định và khích lệ giúp anh em sống hòa hợp với nhau theo gương Đấng Christ Jêsus;
15:6 để anh em đồng một lòng, một miệng mà tôn vinh Đức Chúa Trời , là Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
15:7 Vậy, anh em hãy vì vinh quang của Đức Chúa Trời mà tiếp nhận nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp nhận anh em.
15:8 Tôi xin nói, Đấng Christ đã vì lẽ thật của Đức Chúa Trời mà trở thành đầy tớ của những người được cắt bì, để khẳng định những lời hứa đã ban cho các tổ phụ,
15:9 và khiến dân ngoại tôn vinh Đức Chúa Trời vì sự thương xót của Ngài. Như có lời chép: "Bởi đó Con sẽ ca ngợi Chúa giữa muôn dân,
Và chúc tụng danh Ngài." (2Samuên 22:50; TThiên 18:49)
15:10 và có lời chép:
"Hỡi dân ngoại, hãy cùng vui với dân Chúa." (Phục 32:43)
15:11 và rằng:
"Hỡi tất cả dân ngoại, hãy ca ngợi Chúa."
Và muôn dân khá chúc tụng Ngài!" (TThiên 117:1)
15:12 Êsai cũng nói:
"Từ Giesê sẽ ra một rễ,
Là Đấng cai trị dân ngoại;
Dân ngoại sẽ hi vọng nơi Ngài." (Êsai 11:10)
15:13 Cầu xin Đức Chúa Trời là nguồn hi vọng làm cho anh em ngập tràn niềm vui và bình an trong đức tin, để nhờ năng quyền của Đức Thánh Linh, anh em được chứa chan hi vọng!

Chức vụ của Phaolô

15:14 Thưa anh em, chính tôi tin chắc rằng anh em vốn giàu lòng nhân ái, đầy sự hiểu biết, và có khả năng khuyên bảo lẫn nhau.
15:15 Tuy nhiên, trong thư gửi cho anh em có một vài điểm tôi nói hơi mạnh, chẳng qua là để nhắc nhở anh em, vì Đức Chúa Trời đã ban ân điển cho tôi
15:16 được làm đầy tớ của Đấng Christ Jêsus giữa các dân ngoại, thi hành chức tế lễ cho Tin lành của Đức Chúa Trời, để dân ngoại trở thành lễ vật đẹp lòng Chúa, được thánh hóa bởi Đức Thánh Linh.
15:17 Vậy, trong Đấng Christ Jêsus tôi có lý do để hãnh diện về công tác phục vụ Đức Chúa Trời.
15:18 Vì tôi không dám nói nhiều gì khác ngoài những gì mà Đấng Christ đã thực hiện qua tôi để khiến dân ngoại vâng phục Ngài. Bằng lời nói và việc làm,
15:19 bằng năng quyền của dấu lạ phép mầu, bằng uy lực của Thánh Linh Đức Chúa Trời, tôi đã công bố rộng rãi Tin Lành của Đấng Christ khắp nơi, từ Giêrusalem và miền phụ cận cho đến xứ Ilyricum.
15:20 Nhưng ước vọng của tôi là rao truyển Tin Lành ở những nơi mà danh Đấng Christ chưa được truyền đến, để khỏi xây trên nền của người khác,
15:21 như có lời chép:
"Những người chưa được loan báo vế Ngài, sẽ thấy Ngài,
Những người chưa nghe về Ngài, sẽ hiểu biết Ngài." (Êsai 52:15)


Dự định thăm viếng Rôma của Phaolô

15:22 Đó là lý do đã nhiều lần ngăn trở tôi đến thăm anh em.
15:23 Nhưng bây giờ trong những miền này không còn chổ cho tôi nữa; hơn nữa, đã nhiều năm nay, tôi rất ước ao đến thăm anh em.
15:24 Tôi hi vọng sẽ ghé thăm anh em trên đường đi Tây Ban Nha, và sau khi thấy thỏa lòng vì được ở với anh em một thời gian, tôi sẽ nhờ anh em đưa tôi qua đó.
15:25 Nhưng bây giờ tôi đi Giêrusalem để phục vụ các thánh đồ;
15:26 vì người Maxêđônia và Achai vui lòng quyên góp để giúp đở những người nghèo túng trong số các thánh đồ ở Giêrusalem.
15:27 Họ vui lòng làm việc đó, nhưng thật ra họ cũng mắc nợ những người đó nữa; vì nếu người ngoại đã được chia sẻ của cải thuộc linh, thì họ cũng phải đem của cải vật chất mà giúp đỡ lại.
15:28 Vì vậy, sau khi làm xong việc nầy, tức là khi đã phân phát các phẩm vật cho họ rồi, tôi sẽ lên đường, ghé thăm anh em rồi đi Tây Ban Nha.
15:29 Tôi biết khi sang thăm anh em, tôi sẽ đến với ân phước dồi dào của Đấng Christ.
15:30 Thưa anh em, vì Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, và vì tình yêu thương bởi Thánh Linh, tôi nài xin anh em hãy cùng tôi chiến đấu trong lời cầu nguyện mà anh em vì tôi trình dâng lên Đức Chúa Trời,
15:31 để tôi được thoát khỏi những kẻ vô tín trong xứ Giuđe, và chức vụ của tôi khi đến Giêrusalem sẽ được các thánh đồ chấp nhận.
15:32 Như thế, nếu đẹp ý Đức Chúa Trời, tôi có thể vui mừng đến với anh em và cùng được nghỉ ngơi với anh em.
15:33 Cầu xin Đức Chúa Trời bình an ở với tất cả anh em! Amen

(<<) Roma 16
Phaolô giới thiệu nữ chấp sự Phêbê


16:1 Tôi xin giới thiệu với anh em chị Phêbê, người chị em chúng tôi, cũng là nữ chấp sự của Hội Thánh Sencơrê.
16:2 hãy tiếp rước chị một cách xứng đáng trong Chúa, như tiếp các thánh đồ, và giúp đỡ chị mỗi khi chị cần đến anh em, vì chính chị đã từng giúp nhiều người, và cả tôi nữa.

Lời chào thăm

16:3 Xin cho tôi kính gởi lời chào thăm Pêrítsin và Aquila, những người cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ Jêsus,
16:4 là hai người lều chết để cứu mạng tôi; không phải chỉ có tôi mang ơn hai người, mà cả các Hội Thánh của dân ngoại nữa.
16:5 Cũng xin kính lời chào thăm Hội Thánh nhóm tại nhà hai người. Kính chào Êbainết, người bạn thân mến của tôi, và là trái đầu mùa cho Đấng Christ trong vùng Asia.
16:6 Kính chào Mari, người đã làm việc vất vả vì anh em.
16:7 Kính chào Antrônicơ và Giunia, là bà con và bạn đồng tù với tôi, cũng là hai người nổi bật trong số các sứ đồ và thuộc về Đấng Christ trước tôi.
16:8 Kính chào Amlia, người rất yêu quí của tôi trong Chúa.
16:9 Kính chào Urơbanh, bạn cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ, và Ếchtachy, người bạn thân mến của tôi.
16:10 Kính chào Abelơ, người được tiếp nhận trong Đấng Christ. Kính chào những người thuộc gia đình Aríchtôbu.
16:11 Kính chào Hêrôđiôn, người họ hàng của tôi. Kính chào những người trong gia đình Nạtxít, là những người trong Chúa.
16:12 Kính chào Tryphenơ và Tryphôsơ, là hai chị đã vất vả vì Chúa. Kính chào Pẹtsiđơ, người chị tôi quí mến, đã làm việc nhọc nhằn cho Chúa.
16:13 Kính chào Ruphu, người được Chúa chọn, và kính chào thân mẫu của anh, cũng là thân mẫu tôi.
16:14 Kính chào Asincơrích, Phơlêgôn, Hẹtme, Patrôba, Hẹtma, và các anh em ở với họ.
16:15 Kính chào Philôlôgơ và Giuli, hai chị em Nêrê và em gái của anh ấy, Ôlim, và tất cả thánh đồ ở với họ.
16:16 Hãy chào nhau bằng cái hôn thánh. Tất cả các Hội Thánh của Đấng Christ đều kính lời chào anh em.

Đề phòng kẻ lập bè đảng

16:17 Thưa anh em, tôi khuyên anh em hãy coi chừng những kẻ lập bè đảng và gây vấp phạm, chống lại sự dạy dỗ mà anh em đã học. Hãy tránh xa họ đi.
16:18 Vì những kẻ đó chẳng phục vụ Đấng Christ, Chúa chúng ta, nhưng phục vụ chính cái bụng của họ, và dùng lời lẽ đường mật, dua nịnh để lừa dối những tấm lòng thật thà.
16:19 Mọi người đều biết lòng vâng phục của anh em, vì vậy tôi vui mừng về anh em, mong rằng anh em khôn ngoan về điều lành, và thanh sạch về điều dữ.
16:20 Đức Chúa Trời bình an sẽ sớm giày đạp Satan dưới chân anh em. Cầu xin ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus ở với anh em!

Lời chào thăm của các bạn Phaolô

16:21 Timôthê, người cùng làm việc với tôi kính chào anh em; Lusiút, Giasôn và Sôxipatê, là họ hàng của tôi cũng chào anh em.
16:22 Tôi là Tẹttiu, người chép thư này, kính chào anh em trong Chúa.
16:23 Gaiút, người tiếp đãi tôi và cả Hội Thánh, kính chào anh em.
16:24 Êrát, người quản lý kho bạc thành phố, và Quarơtu, người anh em chúng ta, cũng chào anh em nữa.

Lời tạ ơn

16:25 Ngợi ca Đấng có quyền làm vững mạnh anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng của Đức Chúa Trời hằng sống và qua các sách Tiên Tri, điều mầu nhiệm đã được tỏ bày cho mọi dân tộc đều biết, để đem họ đến đức tin vâng phục,
16:27 và qua Đức Chúa Jêsus Christ, Đức Chúa Trời là Đấng khôn ngoan duy nhất, được vinh quang đời đời vô cùng! Amen.



(<<)  Tóm Lược - Rôma (Romans)

Mục đích: Sứ đồ Phaolô tự giới thiệu và trình bày đức tin về Tin Lành cho các tính hữu tại Rôma.
Tác giả: Sự đồ Phaolô (Paul)
Ngày viết: Viết Khoảng năm 57 A.D. tại Côrinhtô, trước khi thăm viếng Jêrusalem.

Bối Cảnh:
Sự đồ Phaolô vừa kết thúc chương trình truyền giáo lần thứ ba, ông dự tính sau khi đem tiền dâng hiến để giúp đở các tín đồ nghèo tại Jêrusalem (15:23-28), ông sẽ ghé thăm Hội thành Rôma trên đường đi đến Tây Ban Nha (Spain). Phần đông tín đồ tại Rôma là người Giuđa, nhưng cũng có rất đông người ngoại.

Những Điểm Đặt Biệt:
Thư Tín Rôma là thư dài nhất trong 13 thư tín của Phaolô. Sứ đồ Phaolô biết tín đồ tại Rôma phần đông có học thức và chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi triết học, các tư tưởng mới, phong tục tập quán, và luật pháp; nên ông để rất nhiều thời giờ cầu nguyện và viết cách cẩn thận dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh để trình bài đức tin về Tin Lành của mình cho Hội thánh Rôma và Christ nhân khắp nơi.

Câu gốc - Rôma 5:1:
Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Ðức Chúa Trời, bởi Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta,

Đề Tài Chính:
+ 1. Mọi người đều sanh ra trong tội lỗi, (3:23): "Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời" (TĐạo 7:20; Gal. 3:22; 1Gi 1:8-10). + 2. Mọi người đều có cuộc chiến tranh thuộc linh với tội lỗi để làm điều thiện, đặc biệt Christ nhân càng nhận biết tội lỗi và sự yếu đuối của xác thịt cách rõ ràng hơn nhờ Lời Chúa và Đức Thánh Linh. + 3. Sự cứu rỗi là món quà tặng không... không phải do việc làm nhưng qua ân điển Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời. + 4. Không có gì cò thể chia cách tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta qua Chúa Jêsus Christ (8:39). + 5. Chỉ có đức tin qua Chúa Jêsus và sự vâng Lời Ngài, mới giúp chúng ta được công bình trước sự phán xét của Đức Chúa Trời + 6. Mọi người được cứu bởi đức tin, không phải qua việc làm (1:17; 3:22; 4:5,9,11,13; 9:30; 10:6) + 7. Sự thánh hóa (sanctification) qua quyền năng Đức Thánh Linh chứ không phải qua sự giữ gìn luật pháp. 8. Ai tin Đấng Christ sẽ được cứu và được ban cho Đức Thánh Linh để giúp có một đời sống mới chiến thắng tội lỗi.

Mục Lục:
1. Giới thiệu 1:11-1:17
2. Mọi người đều có tội ... 1:18-3:20
3. Sự cứu rỗi linh hồn được ban cho mọi người qua đúc tin nơi Chúa Jêsus 3:21-8:39
4. Chương trình của Đức Chúa Trời dành cho người Giuđa 9:1-11:36
5. Cá tánh và mối liên hệ của Christ nhân 12:1-15:13
6. Lời khuyên cuối và chào thăm 15:14-16:27.



Mục Lục - Rôma:

11. Sự kêu gọi trong chức vụ sứ đồ của Phao lô và lý do viết thư tín Rôma (1:1-7)
12. Sự Biết ơn Chúa, cầu nguyện và quan tâm đến Tin Lành là lý do viết sách (1:8-15)
13. Quyền năng của Tin Lành để cứu mọi người tin (1:16-17)
14. Sự thờ phượng sai lầm vì không nhận biết Đức Chúa Trời (1:18-23)
15. Hậu quả của sự chống nghịch lại Đức Chúa Trời (1:24-32)

21. Sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời (2:1-16)
22. Mối liên hệ giữa người Do Thái và Luật Pháp (2:17-3:8)

31. Không có người công bình vì mọi người đều phạm tội và làm nô lệ cho tội lỗi (3:9-20)
32. Sự công bình của Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Chúa Đức Chúa Jêsus Christ (3:21-31)

41. Gương đức tin của Ápraham (4:1-12)
42. Lời hứa của Đức Chúa Trời được thực hiện qua đức tin (4:13-25)

51. Kết quả của sự xưng công bình bởi đức tin qua Đức Chúa Jêsus Christ (5:1-11)
52. Tội lỗi qua Ađam và sự cứu rỗi qua Đấng Christ (5:12-21)

61. Chết với tội lỗi và Sống với ân đìển trong Đấng Christ (6.1-14)
62. Giải thoát khỏi tội lỗi, trở thành "nô lệ" cho sự công bình (6:15-23)

71. Giải thoát khỏi Luật Pháp (7:1-6)
72. Liên hệ giữa Tội Lỗi và Luật Pháp (7:7-13)
73. Cuộc chiến nội tâm: xác thịt tội lỗi và tâm linh tốt lành muốn vâng phục Chúa (7:14-25)

81. Sự sống mới trong Thánh Linh Đức Chúa Trời Ba ngôi (8:1-17)
82. Niềm hi vọng của Christ nhân (8:18-30)
83. Không có gì có thể phân rẽ chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ (8:31-39)

91. Quyền công bình của Đức Chúa Trời và tuyển dân Do Thái (9:1-18)
92. Sự thịnh nộ và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời (9:19-29)
93. Sự không vâng lời của dân Ysơraên (9:30-33)

100. Sự cứu chuộc cho mọi người: "bàn chân của người rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao" (10:1-21)
111. Lòng khoan nhân của Đức Chúa Trời đối với dân Ysơraên (11:1-10)
112. Sự cứu chuộc đến với dân ngoại (11:11-24)
113. Dân Ysơraên sẽ được cứu (11:29-36)

121. Đời sống mới trong Đấng Christ; các ân tứ (12:1-8)
122. Đời sống mới trong Tình Yêu Thương (12:9-21)

131. Phục tùng các đấng cầm quyền (13:1-7)
132. Tình yêu thương làm trọn luật pháp (13:8-10)
133. Hãy luôn thức tình vì sự cứu rỗi đã gần (13:11-14)

141. Chớ đoán xét và khoan dung với anh em (14:1-12)
142. Không gây vấp phạm cho nhau; đức tin và thức ăn ... (14:13-23)

151. Hào thuận trong Chúa (15:1-13)
152. Chứa vụ của Phaolô (15:14-21)
153. Dự định thăm viếng Rôma của Phaolô (15:22-33)

161. Phaolô giới thiệu nữ chấp sự Phêbê (16:1-2)
162. Lời chào thăm anh em trong Chúa (16:3-16)
163. Đề phòng kẻ lập bè đảng (16:17-20)
164. Lời chào thăm anh em của các bạn phaolô (16:21-24)
165. Lờ tạ ơn Chúa (16:25-27)